Thursday, 28/10/2021 - 18:27|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường Mầm non Yên Lạc

Tuyên truyền

Kỷ niệm 70 năm Ngày Bác Hồ về ATK Định Hoá - Thái Nguyên lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (20/5/1947 - 20/5/2017)

ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN

Kỷ niệm 70 năm Ngày Bác Hồ về ATK Định Hoá - Thái Nguyên lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (20/5/1947 - 20/5/2017)

1. Thái Nguyên - vùng đất giàu truyền thống yêu nước, cách mạng và văn hóa

Thái Nguyên là tỉnh giàu truyền thống yêu nước và cách mạng. Trên mảnh đất này đã ghi danh nhiều anh hùng dân tộc, danh nhân lịch sử như: Dương Tự Minh, Lưu Trung, Lưu Nhân Chú, Phạm Cuống, Đỗ Cận, Nguyễn Cầu, Phạm Nhĩ, Đàm Sâm…

Năm 1884, thực dân Pháp đánh chiếm tỉnh Thái Nguyên, nhưng chúng đã vấp phải tinh thần yêu nước sôi nổi, mạnh mẽ, liên tục của nhân dân Thái Nguyên kéo dài từ cuối thế kỉ XIX sang đầu thế kỉ XX; tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên năm 1917, do Đội Cấn và Lương Ngọc Quyến lãnh đạo. Trải qua 10 năm đấu tranh cách mạng (1936 - 1945), dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Thái Nguyên đã biểu lộ khí phách của một dân tộc anh hùng. Nhiều cán bộ trung kiên đã không ngại khó khăn, gian khổ, bất chấp mọi hiểm nguy, sẵn sàng hi sinh vì cách mạng, tiêu biểu như Nông Văn Cún, Nhật Sơn... Đồng bào các dân tộc trong tỉnh từ miền núi đến vùng hạ du, từ nông thôn đến thành thị mặc dù liên tục bị kẻ thù khủng bố, đàn áp dã man, bị o ép, khống chế trong các trại tập trung, nhưng vẫn một lòng đi theo bảo vệ cách mạng, chống lại kẻ thù, san sẻ cho Cứu quốc quân từng ngọn rau, bát cháo, che chở, bảo vệ cán bộ… Tinh thần yêu nước của nhân dân đã hun đúc nên truyền thống kiên cường, bất khuất của quê hương Thái Nguyên.

Lịch sử tỉnh Thái Nguyên là một bộ phận của lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời cơ sở Đảng đầu tiên (năm 1936) tại xã La Bằng (huyện Đại Từ) đánh dấu bước phát triển quan trọng của phong trào cách mạng tỉnh Thái Nguyên.

Theo quyết định của Hội nghị Trung ương Đảng (tháng 11/1940), vùng Bắc Sơn (Lạng Sơn) - Võ Nhai (Thái Nguyên) được xây dựng thành căn cứ địa đầu tiên của cách mạng Việt Nam. Để đáp ứng yêu cầu của phong trào cách mạng, ngày 15/9/1941, tại Rừng Khuôn Mánh, xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, Trung đội Cứu Quốc quân II đã ra đời, là một trong những lực lượng tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay. Năm 1943, cùng với xã Hoàng Vân (huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang), địa bàn các xã Kha Sơn (huyện Phú Bình) và Tiên Phong (huyện Phổ Yên) thuộc tỉnh Thái Nguyên, được chọn làm nơi xây dựng An toàn khu II (ATK II) của Trung ương Đảng và Xứ ủy Bắc Kỳ. Ngày 15/5/1945, tại Đình làng Quặng, xã Định Biên (Định Hóa) diễn ra lễ hợp nhất Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Cứu quốc quân và các lực lượng vũ trang của Đảng trong toàn quốc thành Việt Nam Giải phóng quân.

Thái Nguyên cũng là nơi có nền văn hoá lâu đời. Từ những năm 70, 80 của thế kỉ XX, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện, khai quật khu di chỉ khảo cổ trên địa bàn xã Thần Sa (huyện Võ Nhai), bao gồm các hang Phiêng Tung, mái đá Ngườm, Nà Ngùn, Thắm Choong…, với những công cụ cuội (một loại đá) được ghè đẽo như: Mảnh tước, rìu tay, công cụ chặt hình núm, công cụ chặt rìa, công cụ chặt 2 lưỡi, công cụ hình sừng bò… Đặc biệt là việc tìm thấy 3 bộ xương người cổ được mai táng ở mái đá Ngườm, xóm Kim Sơn là những tư liệu quý giúp các nhà khoa học tìm hiểu sâu hơn về nền văn hoá Hoà Bình nổi tiếng. Từ kết quả nghiên cứu di chỉ hang Phiêng Tung và mái đá Ngườm ở Thần Sa, các nhà khảo cổ học đã xác định có một nền văn hóa thuộc hậu kì đồ đá cũ, cách nay khoảng 2 - 3 vạn năm. Thành tựu này có ý nghĩa to lớn đối với nhận thức tiền sử không chỉ ở Việt Nam, mà cả khu vực Đông Nam Á. Bên cạnh đó, các nhà khảo cổ học còn phát hiện ra trống đồng Đông Sơn ở xã Hoà Bình (huyện Đồng Hỷ)...

2. Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc lựa chọn Định Hóa - Thái Nguyên làm nơi xây dựng An toàn khu

Sau một thời gian dài hoạt động ở nhiều nước, cuối năm 1938, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô đi Trung Quốc để tìm cách về nước lãnh đạo phong trào cách mạng. Tháng 8/1940, từ Côn Minh (thủ phủ tỉnh Vân Nam), Người trở lại Quế Lâm (tỉnh Quảng Tây) cùng với một số cán bộ, chuẩn bị điều kiện và chờ cơ hội thuận lợi để trở về Tổ quốc lãnh đạo phong trào cách mạng. Chính tại nơi đây, với tầm nhìn chiến lược, Nguyễn Ái Quốc đã nhận định: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta… Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối được phong trào với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ

Như vậy, với tầm nhìn chiến lược của Nguyễn Ái Quốc, Thái Nguyên có vị trí đặc biệt quan trọng đối với cách mạng Việt Nam. Do đó, “… khi Bác về Pác Bó đã có ý định phát triển cơ sở xuống Thái Nguyên, vì Thái Nguyên là một địa bàn quan trọng “tiến có thể đánh, lui có thể giữ” và nhân dân ở đây có truyền thống cách mạng

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (09/3/1945), thời cơ cho nhân dân ta nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền nhanh chóng chín muồi. Từ lúc này, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã có ý định chuyển về huyện Định Hoá (Thái Nguyên) một thời gian để lãnh đạo Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Theo lời kể của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “… tôi nhận được chỉ thị của Bác Hồ bố trí cho Bác về làm việc ở Chợ Chu. Tôi bàn với hai anh Tấn và Song Hào đề nghị Bác chọn Tân Trào, vì Chợ Chu tuy cơ sở chính trị, kinh tế đều tốt nhưng có đường thông thương với Thái Nguyên dễ bị uy hiếp; còn Tân Trào, dân cư có thưa thớt, kinh tế có khó khăn nhưng địa thế hiểm trở hơn. Châu Sơn Dương còn cách tỉnh lị Tuyên Quang bởi con sông Lô, tiện bảo vệ. Do vậy, từ tháng 6/1945, khi thành lập Khu giải phóng thì Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang) được chọn làm Thủ đô và Định Hoá (Thái Nguyên) là áo giáp bảo vệ Thủ đô từ phía đông.

Sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, với tầm nhìn xa trông rộng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân công đồng chí Phạm Văn Đồng cùng một số cán bộ ở lại Việt Bắc một thời gian để củng cố căn cứ địa.

Giữa tháng 12/1946, một số cán bộ trong Đội công tác đặc biệt (thành lập tháng 11/1946) lần lượt lên vùng Việt Bắc để khảo sát địa điểm. Sau một thời gian nghiên cứu, Đội quyết định chọn các huyện Định Hoá, Đại Từ, Phú Lương, Võ Nhai (Thái Nguyên), cùng với các huyện Yên Sơn, Sơn Dương, Chiêm Hoá (Tuyên Quang) và Chợ Đồn (Bắc Kạn) làm nơi xây dựng An toàn khu (ATK) của Trung ương. Đó là những nơi có đủ các yếu tố địa lợi và nhân hoà, bảo đảm sự an toàn cho các cơ quan đầu não kháng chiến hoạt động trong những năm chiến tranh ác liệt.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chuyển về phía tây nam Hà Nội từ những ngày đầu toàn quốc kháng chiến. Mờ sáng ngày 04/3/1947, Người rời Sơn Tây, qua bến đò Trung Hà sang địa phận Phú Thọ trên đường di chuyển lên ATK. Cùng đi với Người có 8 cán bộ vừa làm cảnh vệ, vừa làm liên lạc và cấp dưỡng. Đồ dùng của Người mang theo gồm có chăn, màn, vài bộ quần áo, đôi dép cao su, chiếc máy chữ và ít tài liệu, sách vở đựng trong chiếc túi nhỏ. Từ ngày 02/4/1947, Người ở tại làng Xảo (xã Bình Phú, còn gọi là xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang).

Tối 19/5/1947, từ làng Xảo (Sơn Dương, Tuyên Quang), Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các cán bộ cảnh vệ và giúp việc trèo đèo, lội suối sang ATK Định Hoá. Ngày 20/5/1947, Người đến ở và làm việc tại xã Điềm Mặc (Định Hoá) và ở đó cho đến ngày 11/10/1947.

Thời gian đầu ở ATK, các đồng chí phục vụ mới dựng được hai căn nhà để Bác, các đồng chí Vũ Kỳ, Hoàng Hữu Kháng, nữ đồng chí Thường (cấp dưỡng phục vụ Bác) ở và làm việc. Còn các đồng chí khác ở tạm trong nhà đồng chí Ma Đình Tương (lúc đó là Chủ tịch Ủy ban Hành chính huyện Định Hóa). Nơi ở và làm việc của Bác là một căn nhà sàn lợp lá gồm hai gian được dựng trên đồi Khau Tý, nép mình bên cây cổ thụ giữa khu rừng nứa ngộ thuộc thôn Nà Tra. Căn nhà Bác ở thoáng mát, vách nứa được đan rất khéo tay, nhìn rất đẹp. Trên một phía vách có treo một chiếc áo the dài, một khăn xếp, một chiếc ô đen. Đó là những thứ Bác dùng để cải trang khi đi công tác. Dưới sàn có hai chiếc vali dùng để đựng tài liệu và quần áo. Giữa sàn trải một chiếc chiếu. Tất cả “tiện nghi” của Bác Hồ - vị Cha già kính yêu của dân tộc ta, vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ có như thế.

Cách căn nhà Bác ở khoảng 10 mét, là một căn nhà nhỏ xinh xắn. Giữa hai căn nhà là sân đất sạch sẽ. Ở góc sân có một xà đơn, một xà kép; cạnh đó là hầm tránh máy bay. Từ nơi Bác ở có con đường mòn đi sang huyện Sơn Dương (tỉnh Tuyên Quang), xuống huyện Đại Từ (tỉnh Thái Nguyên), lên huyện Chợ Đồn (tỉnh Bắc Kạn), ra huyện Phú Lương (tỉnh Thái Nguyên) và nhiều đường tắt đi lại kín đáo, thuận tiện.

Để đảm bảo bí mật - một trong những nguyên tắc nghiêm ngặt nhất trong thời kì kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo cao cấp thường xuyên thay đổi địa điểm làm việc. Có lúc, Người ở huyện Định Hoá, có lúc sang Sơn Dương, Yên Sơn, có lúc lên Chợ Đồn hoặc sang Võ Nhai. Riêng huyện Định Hoá, Người đã từng ở và làm việc tại xã Điềm Mặc từ ngày 20/5 đến ngày 11/10/1947, Khuôn Tát (xã Phú Đình) từ ngày 20 đến ngày 28/11/1947, Nà Lọm (Phú Đình) từ ngày 7/3 đến ngày 12/9/1948 và cuối năm 1951, bản Pèo (Phú Đình) từ ngày 12/5 đến ngày 01/6/1949… “Cơ quan Trung ương Đảng, cơ quan đồng chí Trường Chinh thường ở gần cơ quan của Bác và Tổng Quân uỷ, Bộ Tổng Tư lệnh, chủ yếu là ở Lục Rã (Phú Đình), cũng có lúc cơ quan chuyển sang Tân Trào nhưng ít lâu sau lại trở về chỗ cũ

Như vậy, một lần nữa, Thái Nguyên là một trong những địa bàn chiến lược được Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn làm nơi đặt đại bản doanh để lãnh đạo quân, dân cả nước tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thái Nguyên là một bộ phận cấu thành của căn cứ địa miền núi phía Bắc.

Không chỉ các quyết sách lớn của Đảng và Chính phủ phần lớn đều quyết định tại ATK Định Hoá, mà các hoạt động ngoại giao cũng diễn ra chủ yếu trên đất Thái Nguyên. Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp Pôn Muýt (Paul Mus) - đại diện Cao uỷ Pháp, tại thị xã Thái Nguyên. Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Pháp do Lêô Phighe (Léo Figuères) dẫn đầu, các đoàn cố vấn Trung Quốc, đoàn điện ảnh Liên Xô và nhà đạo diễn nổi tiếng Cácmen, nhiều nhà ngoại giao, nhà báo quốc tế… được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tại ATK Định Hoá. “Các đồng chí lãnh đạo Đảng bạn như Chủ tịch Xuvanuvông, đồng chí Cayxỏn, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào, đồng chí Sơn Ngọc Minh, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia… trong thời kì kháng chiến chống Pháp đã ở và làm việc nhiều ngày trên đất Đại Từ…”

Rõ ràng là, Thái Nguyên - trong tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã trở thành một địa bàn chiến lược trong ATK Trung ương. ATK Trung ương chính là Thủ đô kháng chiến; trong đó, Thái Nguyên là một bộ phận trọng yếu không thể tách rời. Nói đến Thủ đô kháng chiến chống thực dân Pháp là nói đến một khu vực lãnh thổ thuộc địa phận các huyện Định Hoá, Đại Từ, Phú Lương, Võ Nhai (Thái Nguyên), Chợ Đồn (Bắc Kạn), Sơn Dương, Yên Sơn, Chiêm Hoá (Tuyên Quang) nằm trong căn cứ địa Việt Bắc mà ở đó có các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ, Bộ Tổng Tham mưu… Trong ATK Trung ương, các huyện: Định Hoá (Thái Nguyên), Sơn Dương, Yên Sơn (Tuyên Quang) và Chợ Đồn (Bắc Kạn) là khu vực trung tâm (vòng trong) của Thủ đô kháng chiến.

 Như vậy, địa hình, địa thế hiểm yếu, cùng với cơ sở cách mạng ra đời sớm và phát triển vững chắc ở đây là những cơ sở rất cơ bản đã giúp cho Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định chọn Thái Nguyên cùng Tuyên Quang, Bắc Kạn làm địa bàn xây dựng ATK Trung ương. Chọn ATK ở Việt Bắc nói chung và Định Hóa nói riêng chính là chọn được nơi an toàn nhất, chắc chắn nhất cho cơ quan đầu não tồn tại và lãnh đạo cuộc kháng chiến đi tới thắng lợi. Sự thất bại hoàn toàn của thực dân Pháp trong cuộc tấn công lên Căn cứ địa Việt Bắc Thu - Đông 1947 là thực tế khẳng định việc lựa chọn và xây dựng ATK ở vùng này là hoàn toàn chính xác.

3. Vị trí, vai trò của ATK Định Hóa trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

- ATK Định Hóa là một trong những trung tâm lãnh đạo sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của cả nước

ATK do Trung ương xây dựng tại Định Hóa và một số huyện giáp ranh là khu an toàn lớn nhất và quan trọng nhất, vì đó là căn cứ của các cơ quan đầu não kháng chiến. Chính kẻ thù cũng nhận thấy: “Địch đã tổ chức trong khu tứ giác Chợ Chu - Tuyên Quang - Chiêm Hóa - Chợ Rã một căn cứ địa, từ chỗ ấy chúng chỉ huy và điều khiển cuộc kháng chiến” Bởi vậy, khi mở cuộc tấn công quân sự quy mô lớn lên Việt Bắc (Thu - Đông 1947), thực dân Pháp quyết “phá tan cái kim tự tháp đối nghịch, bằng cách đập vào đầu não những cơ quan quân chính điều khiển và tổ chức hành động Việt Minh trên khắp Đông Dương.

Sau Chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, nhận rõ vị trí quan trọng của Căn cứ địa Việt Bắc nói chung và ATK nói riêng, Hội nghị Đảng đoàn Chính phủ (19/4/1949), dưới sự chủ tọa của Tổng Bí thư Trường Chinh, quyết định: Lấy 6 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang làm căn cứ địa; thành lập Ban Căn cứ địa, với tên gọi Đội Củng cố số 7, gồm 5 người, do đồng chí Trần Kiên phụ trách. Trong phạm vi rộng lớn ấy, Trung ương nhấn mạnh phải đặc biệt coi trọng những khu vực an toàn nhất, thuận tiện nhất, trong đó có vùng ATK Định Hóa.

Tuy nằm trên địa phận một số xã ở huyện Định Hóa và một số huyện khác trong Căn cứ địa Việt Bắc, nhưng sự tồn tại và hoạt động của ATK Định Hóa có tầm vóc quốc gia. Phạm vi hoạt động và ảnh hưởng của ATK Định Hóa không giới hạn trong phạm vi không gian tồn tại của nó, mà rộng khắp cả nước.

Thực vậy, tại ATK Định Hóa…, có cả một bộ máy Trung ương Đảng, Chính phủ… ở và làm việc trong những “căn nhà lá tồi tàn với những Bộ trưởng ba lô trên lưng, hồ sơ đựng trong xà cột…”. Nhưng chính “trong những ngôi nhà lá với những ông Bộ trưởng như vậy, những quyết định quan trọng của Nhà nước Việt Nam đã ra đời và đã chôn vùi số phận quân đội viễn chinh”.

Từ ATK Định Hóa, Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng đã cho ra đời nhiều quyết định quan trọng về việc thành lập các phân hiệu võ bị, các trường lục quân, các lớp bổ túc cán bộ quân sự… Từ ATK Định Hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí nhiều sắc lệnh quan trọng để chỉ đạo kháng chiến, kiến quốc. Cũng tại nơi đây, Trung ương Đảng, Chính phủ và Bộ Tổng tư lệnh thường xuyên nhận được tin tức về tình hình kháng chiến, kiến quốc ở các địa phương và có những chủ trương, biện pháp chỉ đạo kịp thời, đẩy mạnh mọi mặt hoạt động ở các khu, các tỉnh. Cuối năm 1948, tại ATK Định Hóa, Bộ Tổng chỉ huy ra bản huấn lệnh gửi Nam Bộ, nêu rõ phương hướng, nhiệm vụ cụ thể cho phong trào kháng chiến Nam Bộ. Nhờ đó, phong trào kháng chiến ở Nam Bộ, sau một chặng đường vô cùng khó khăn trong những ngày đầu, tiếp tục đứng vững và phát triển…

Từ ATK Định Hóa, Bộ Tổng chỉ huy ngày đêm nghiên cứu định ra phương châm hoạt động cụ thể thích hợp cho từng chiến trường. Những quyết tâm của Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng về mở các chiến dịch Trung Du (1950), Đường số 18, Hà - Nam - Ninh (1951), Hòa Bình (Đông – Xuân 1951 - 1952), Tây Bắc (Thu - Đông 1952), Thượng Lào (Xuân - Hè l953) đều được quyết định tại ATK Định Hoá. Lán Tỉn Keo (Phú Đình) đã từng là nơi Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp thông qua chủ trương chiến lược trong Đông - Xuân 1953 - 1954. Và cũng chính tại nơi đây, Bộ Chính trị hạ quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

ATK Định Hóa cũng là một trong những nơi Trung ương Đảng và Chính phủ đề ra các chủ trương, biện pháp chỉ đạo hoạt động kinh tế, tài chính, văn hóa… trong cả nước. Thực hiện chủ trương của Trung ương, khắp nơi trong vùng tự do, các ủy ban tự túc, tự cấp về ăn, mặc được thành lập. Các đơn vị bộ đội, cơ quan, xí nghiệp, trường học… đều dành thời gian để tăng gia sản xuất… Ngoài lương thực và hoa màu, nhiều nơi nhân dân ta còn trồng bông, trồng dâu nuôi tằm. Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ - đặt tại Phượng Tiến - đã sản xuất được một khối lượng giấy, đáp ứng một phần lớn nhu cầu về giấy viết cho các cơ quan.

Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tại ATK Định Hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm rèn luyện, giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ chính quyền các cấp. Người căn dặn, nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Cuối năm 1947, tại Điềm Mặc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết cuốn Sửa đổi lối làm việc, kí bút danh X.Y.Z. Đây là một tài liệu rất bổ ích, giúp cho cán bộ, đảng viên trong quá trình rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, tác phong cách mạng. Những điều căn dặn của Người trong tác phẩm đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

ATK Định Hóa - nơi có Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác Hồ - chính là niềm tin yêu, là nơi nuôi chí bền của cả dân tộc. Trên ý nghĩa ấy, ATK Định Hóa được coi là trung tâm của Thủ đô kháng chiến.

- ATK Định Hóa là một trong những nơi thực hiện chế độ dân chủ mới 

Đầu năm 1947, Định Hóa được tiếp nhận các cơ quan đầu não kháng chiến và trở thành ATK. Từ đó, hơn bất cứ nơi nào khác, Định Hóa có điều kiện thực hiện các quyền tự do dân chủ cho nhân dân các dân tộc.

Trong ATK Định Hóa, bộ máy chính quyền các cấp từng bước được củng cố và kiện toàn, được nhân dân hết lòng tin yêu, ủng hộ. Ở đây có các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ, cơ quan Bộ Quốc phòng… được chia thành từng bộ phận nhỏ thường xuyên di chuyển, hòa vào với nhân dân ở những bản làng hẻo lánh, được sự che chở của nhân dân, khiến địch khó có thể phát hiện.

Tại Định Hóa, dù công quỹ Nhà nước còn hết sức eo hẹp, trong năm 1948, nông dân trong huyện vẫn được vay 40.000 đồng để mua trâu bò, nông cụ. Cùng với việc thực hiện tốt các chính sách cho nông dân vay vốn mua sắm nông cụ, Đảng bộ và các cấp chính quyền thường xuyên quan tâm chăm lo đời sống nhân dân các dân tộc. Ngoài khoản trợ cấp hằng năm của Tiểu ban Cứu tế tỉnh dành cho, Ủy ban Kháng chiến Hành chính huyện có biện pháp sử dụng hiệu quả nguồn công quỹ của địa phương. Bà con nông dân trong huyện còn được tiếp thu các biện pháp kĩ thuật, được hướng dẫn tổ chức sản xuất, thành lập tổ đổi công. Ngay từ năm 1950, toàn huyện đã xây dựng được 100 tổ đổi công. Từ đó, phong trào xây dựng tổ đổi công được mở rộng. Đến vụ mùa năm 1963, toàn huyện đã có 605 tổ đổi công. Suốt những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Định Hóa là một trong những huyện có phong trào xây dựng tổ đổi công mạnh nhất tỉnh Thái Nguyên.

Định Hóa cũng như một số huyện trong ATK là nơi đầu tiên thể nghiệm chính sách thuế nông nghiệp (tháng 5/1951) của Chính phủ. Không những là nơi thực hiện thí điểm các chính sách kinh tế, tài chính, từng bước đem lại quyền lợi vật chất cho nhân dân các dân tộc, ATK còn là nơi được chú trọng chỉ đạo xây dựng đời sống văn hóa.

Nghị quyết Hội nghị Hội đồng Chính phủ (17/8/1947) nêu rõ: “Cần giúp đỡ đồng bào Việt Bắc một cách thiết thực: Chống nạn mù chữ, phát thuốc, tiếp tế… Việc này sẽ thực hiện dần dần trong những khu vực nhỏ để đi tới toàn Việt Bắc…”.

 Với vị trí là ATK Trung ương, bộ mặt xã hội ở huyện Định Hóa từng bước thay đổi. Các trường học được mở ra ở nhiều nơi. Đến cuối năm 1950, mỗi xã đã có một trường phổ thông, với tổng số 80 lớp, gồm 1.230 học sinh và 38 giáo viên. Phong trào bình dân học vụ thanh toán nạn mù chữ ngày càng mở rộng. Trong năm 1950, toàn huyện có 152 lớp sơ cấp bình dân và 9 lớp dự bị bình dân. Việc chăm lo bảo vệ sức khỏe cho nhân dân trong vùng được quan tâm, Phong trào “Ba sạch” (ăn sạch, uống sạch, ở sạch) phát triển rộng rãi ở nhiều nơi. Hiện tượng “cầu ma”, “cúng ma” giảm dần…

- ATK Định Hóa là một trong những đầu mối quan hệ trong và ngoài nước

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, chiến trường toàn quốc bị chia cắt; vùng tự do và vùng tạm bị địch chiếm xen kẽ nhau, việc giao thông liên lạc gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, sự liên hệ giữa ATK Trung ương ở Định Hóa với các địa phương, các chiến trường khắp ba miền Bắc - Trung - Nam vẫn được giữ vững.

Từ ATK Định Hóa, Trung ương Đảng, Chính phủ và Bộ Tổng chỉ huy thường xuyên thu nhận được tình hình chiến sự ở các nơi và kịp thời đề ra phương hướng chỉ đạo cụ thể.

ATK Định Hóa cũng là một trong những nơi đón tiếp, gặp gỡ giữa các nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam với đại biểu nước ngoài. Năm 1948, tại một địa điểm thuộc xã Phú Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban Thường vụ Trung ương Đảng tiếp phái viên của Chu Ân Lai, bàn về việc phối hợp chiến đấu giúp đỡ lẫn nhau giữa quân đội cách mạng hai nước. Tiếp theo sự ra đời nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (tháng 10/1949), chuyến đi bí mật của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ ATK sang Trung Quốc và Liên Xô (tháng 01/1950) đã mở ra một thế phát triển mới cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Trung Quốc, Liên Xô, sau đó một loạt nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu lần lượt công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với nước ta. Đảng Cộng sản Trung Quốc và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã cử một số cố vấn sang Việt Nam, thường xuyên làm việc tại ATK Định Hóa, giúp đỡ Chính phủ ta về các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, tài chính.

4. Xây dựng Thái Nguyên trở thành tỉnh giàu có, phồn vinh

Mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhưng Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đã xác định mục tiêu “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của toàn Đảng bộ; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ, đoàn kết, sáng tạo; huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; phát triển kinh tế nhanh và bền vững, xây dựng Thái Nguyên sớm trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại, trung tâm vùng trung du và miền núi phía Bắc về phát triển công nghiệp, dịch vụ, y tế và giáo dục - đào tạo” để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX đã đề ra.

Sau hơn 80 năm xây dựng và trưởng thành, đến nay Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên có 19 đảng bộ trực thuộc, với trên 86.000 đảng viên, sinh hoạt tại 718 tổ chức cơ sở đảng. Thái Nguyên được Trung ương Đảng, Chính phủ xác định là một trong những trung tâm kinh tế, văn hoá, y tế, đào tạo của vùng trung du, miền núi Bắc Bộ; là một trong những trung tâm công nghiệp của miền Bắc, là cái nôi của ngành Công nghiệp luyện kim Việt Nam, với 6 khu công nghiệp, 32 cụm công nghiệp; là trung tâm giáo dục, đào tạo lớn thứ 3 toàn quốc, trong đó có Đại học Thái Nguyên là đại học trọng điểm Quốc gia; thuộc Vùng Quy hoạch xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Quán triệt sâu sắc các nghị quyết của Trung ương Đảng về công tác xây dựng Đảng và thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thời gian qua, Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đã có nhiều chuyển biến tích cực. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã được tăng cường, các giải pháp được triển khai một cách đồng bộ, có hệ thống. Công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỉ luật Đảng được coi trọng; công tác giám sát của cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội được phối hợp tương đối đồng bộ.

Thời gian qua, Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên rất coi trọng, đẩy mạnh công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, coi đó là nhiệm vụ then chốt trong quá trình xây dựng và trưởng thành. Việc triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XI) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã đạt được những kết quả và kinh nghiệm bước đầu; góp phần ngăn chặn, đẩy lùi một bước những tiêu cực, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn. Phát huy những kết quả đã đạt được, Đảng bộ tỉnh xác định việc triển khai, thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” có ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt trong công tác xây dựng Đảng.

Những kết quả đạt được trong công tác xây dựng Đảng đã góp phần tích cực vào công tác lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; tạo bước chuyển dịch mạnh về cơ cấu kinh tế. Năm 2016, tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt 15,2%, vượt 3,2% so với kế hoạch; thu nhập bình quân đầu người đạt 52 triệu đồng/người/năm, cao hơn bình quân chung của cả nước; giá trị sản xuất công nghiệp đạt trên 477.000 tỉ đồng. Các khu, cụm công nghiệp và các ngành công nghiệp có lợi thế của tỉnh được quan tâm đầu tư phát triển, tạo điều kiện thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, điển hình là Tập đoàn Samsung - Hàn Quốc. Giá trị xuất khẩu trên địa bàn đạt 19,1 tỉ USD; thu ngân sách đạt trên 9.500 tỉ đồng, vượt trên 3.000 tỉ đồng, tăng 46,6% so với kế hoạch. Sản xuất nông, lâm nghiệp ổn định và từng bước chuyển đổi mô hình theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, tăng tỉ trọng ngành Chăn nuôi. Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới đạt được kết quả quan trọng, toàn tỉnh đã có 56 xã đạt chuẩn nông thôn mới. Diện mạo đô thị có nhiều khởi sắc, tỉ lệ đô thị hóa đạt 33,5%. Văn hoá - xã hội có nhiều tiến bộ, bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc được bảo tồn và phát huy; giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ tiếp tục được quan tâm đổi mới, phát triển. Lao động, việc làm có nhiều chuyển biến tích cực, đã giải quyết việc làm cho trên 26.000 người, trong đó tạo việc làm mới 15.000 lao động. Đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, tỉ lệ hộ nghèo giảm dần qua các năm, đến nay chỉ còn 11,4%. An ninh chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.

Để phấn đấu xây dựng tỉnh Thái Nguyên trở thành một trong những tỉnh giàu có, phồn thịnh nhất ở miền Bắc nước ta như lời căn dặn của Bác Hồ khi Người về thăm Thái Nguyên, Đảng bộ tỉnh đã định hướng chỉ đạo xây dựng kế hoạch nhiệm vụ hằng năm, 5 năm theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kì 2015 - 2020. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm năm 2017 là tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng và an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, ổn định tình hình, tạo niềm tin trong Đảng, trong nhân dân. Thông qua nội dung của các chương trình, đề án, dự án, kế hoạch thực hiện trong nhiệm kì, cấp uỷ, chính quyền các cấp tập trung chỉ đạo thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau: Thực hiện đồng bộ các giải pháp tái cơ cấu nền kinh tế gắn với mô hình tăng trưởng; cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp địa phương tham gia công nghiệp phụ trợ, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh, khuyến khích khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp. Thực hiện tốt công tác an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, nâng cao đời sống nhân dân. Nâng cao hiệu quả công tác hợp tác kinh tế đối ngoại và hội nhập quốc tế. Cải cách hành chính nâng, cao hiệu lực, hiệu quả quản lí Nhà nước, thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí. Thực hiện tốt công tác quân sự địa phương; tăng cường đảm bảo an ninh trật tự và an toàn xã hội, phòng ngừa đấu tranh chống diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch chống phá cách mạng trên địa bàn tỉnh, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu phá hoại của địch. Tiếp tục đổi mới và thực hiện có hiệu quả phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.

Chặng đường phía trước có nhiều thời cơ và thuận lợi song cũng còn rất nhiều khó khăn, thách thức; nhưng chúng ta tin tưởng rằng, với truyền thống cách mạng anh hùng, sự đoàn kết, quyết tâm, chung sức đồng lòng của cả hệ thống chính trị và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, chắc chắn tỉnh Thái Nguyên với tiềm năng, thế mạnh to lớn, sẽ phát triển nhanh và bền vững./.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC,

PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH VỀ PHÒNG, CHỐNG SUY THOÁI

TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ, ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG, “TỰ DIỄN BIẾN”,

“TỰ CHUYỂN HÓA” TRONG NỘI BỘ

(Tài liệu sinh hoạt chi bộ, đoàn thể, cơ quan, đơn vị năm 2017)

_____

 

Phần thứ nhất

QUAN NIỆM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ SUY THOÁI TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ, ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG, “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA’ TRONG NỘI BỘ

 

Trong các tác phẩm của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần đề cập đến những tiêu cực nảy sinh trong nội bộ Đảng, chính quyền và trong xã hội. Người không dùng trực tiếp các khái niệm “suy thoái” tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nhưng đã đề cập đến rất nhiều căn bệnh khác nhau thể hiện sự suy thoái đó.

1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về suy thoái tư tưởng chính trị

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ những dấu hiệu suy thoái về tư tưởng chính trị, trước hết là những biểu hiện phai nhạt lý tưởng cách mạng. Ngay từ tháng 10/1947, hai năm sau khi giành được chính quyền, Người đã yêu cầu cán bộ, đảng viên sửa đổi lối làm việc, chỉ rõ phải đấu tranh với những hiện tượng thờ ơ trước những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái: “Nghe những lời bình luận không đúng, cũng làm thinh, không biện bác. Thậm chí nghe những lời phản cách mạng cũng không báo cáo cho cấp trên biết. Ai nói sao, ai làm gì cũng mặc kệ”.

Người phê phán những đảng viên dao động, thiếu lý tưởng cách mạng: “Nếu chỉ có công tác thực tế, mà không có lý tưởng cách mạng, thì cũng không phải là người đảng viên tốt. Như thế, chỉ là người sự vụ chủ nghĩa tầm thường”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng phải chống cái thói xem nhẹ học tập lý luận. Vì không học lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng”.

Người kiên quyết chống những nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Người nói: “Trong Đảng ta hiện nay còn có nhiều người chỉ biết vùi đầu suốt ngày vào công tác sự vụ, không nhận thấy sự quan trọng của lý luận, cho nên còn có hiện tượng xem thường học tập hoặc là không kiên quyết tìm biện pháp để điều hòa công tác và học tập”. “Có một số đồng chí không chịu nghiên cứu kinh nghiệm thực tế của cách mạng Việt Nam. Họ không hiểu rằng: Chủ nghĩa Mác-Lênin là kim chỉ nam cho hành động, chứ không phải là kinh thánh. Vì vậy, họ chỉ học thuộc ít câu của Mác-Lênin, để lòe người ta. Lại có một số đồng chí khác chỉ bo bo giữ lấy những kinh nghiệm lẻ tẻ. Họ không hiểu rằng lý luận rất quan trọng cho sự thực hành cách mạng. Vì vậy, họ cứ cắm đầu nhắm mắt mà làm, không hiểu rõ toàn cuộc của cách mạng”. Người kiên quyết chống những biểu hiện không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác: “Vô kỷ luật, kỷ luật không nghiêm”.

Trong tự phê bình, phê bình, Người kiên quyết chỉ ra và đấu tranh với những biểu hiện không dám nhận khuyết điểm; khi có khuyến điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật: “Thái độ của một số khá đông cán bộ là: Đối với người khác thì phê bình đứng đắn, nhưng tự phê bình thì quá “ôn hòa”. Các đồng chí ấy không mạnh dạn công khai tự phê bình, không vui lòng tiếp thu phê bình-nhất là phê bình từ dưới lên, không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của mình…Nói tóm lại: Đối với người khác thì các đồng chí ấy rất “mác xít”, nhưng đối với bản thân mình thì mắc vào chủ nghĩa tự do”.

Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh: “Có đồng chí đáng phải trừng phạt, nhưng vì cảm tình nể nang chỉ phê bình, cảnh báo qua loa cho xong chuyện.Thậm chí còn có nơi che đậy cho nhau, tha thứ lẫn nhau, lừa dối cấp trên, giấu giếm đoàn thể.Thi hành kỷ luật như vậy làm cho các đồng chí không những không biết sữa lỗi mình mà còn khinh thường kỷ luật. Tai hại hơn nữa nếu kỷ luật của đoàn thể lỏng lẽo, những phần tử phản động sẽ có cơ hội chui vào hàng ngũ ta để phá hoại đoàn thể ta”.

Người lấy ví dụ: “Nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy, lại lấy cớ “nể Cụ” không nói, là tôi mang nhọ mãi.Nhọ ở trên trán thì không quan trọng, nhưng nếu có vết nhọ ở trong óc, ở tinh thần, mà không nói cho người ta sửa tức là hai người…Thấy cái xấu của người mà không phê bình là một khuyết điểm rất to. Không phê bình, tức là để cho cái xấu của người ta phát triển”.“Nói về từng người, nể nang không phê bình, để cho đồng chí mình cứ sa vào lầm lỗi, đến nỗi hỏng việc. Thế thì khác nào thấy đồng chí mình ốm, mà không chữa cho họ. Nể nang mình, không dám tự phê bình, để cho khuyết điểm của mình chứa chất lại. Thế thì khác nào mình tự bỏ thuốc độc cho mình”.

Người cũng chỉ ra nhiều biểu hiện lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng: “Khi phê bình ai, không phải vì Đảng, không phải vì tiến bộ, không phải vì công việc, mà chỉ công kích cá nhân, cãi bướng, trả thù, tiểu khí”. “Phê bình là cốt giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, cho nên thái độ của người phê bình phải thành khẩn nghiêm trang, đúng mực. Phải vạch rõ vì sao có khuyết điểm ấy, nó sẽ có kết quả xấu thế nào, dùng phương pháp gì để sửa chữa. Thuốc phải nhằm đúng bệnh. Tuyệt đối không nên có ý mỉa mai, bới móc, báo thù. Không nên phê bình lấy lệ. Càng không nên “trước mặt không nói, xoi mói sau lưng””.

Hồ Chí Minh chỉ ra và kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác: “Lại có những người trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu. Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái”.

Người phê phán những biểu hiện duy ý chí, áp đặt, bảo thủ, chỉ làm theo ý mình; không chịu học tập, lắng nghe, tiếp thu ý kiến hợp lý của người khác: “Tự cho mình là cái gì cũng giỏi, việc gì cũng biết”. “Tự kiêu tức là cho mình việc gì cũng thạo, cũng làm được. Việc gì mình cũng giỏi hơn mọi người. Mình là thần thánh, không cần học ai, hỏi ai”. Người chỉ ra: “Trong Đảng ta có một số không ít đồng chí mắc bệnh công thần, cho rằng mình đã tham gia cách mạng lâu năm mà tự kiêu, tự mãn. Hoạt động cách mạng lâu năm là tốt, nhưng phải khiêm tốn học tập để tiến bộ mãi”.

Kiên quyết chống những biểu hiện tham vọng chức quyền, không chấp hành sự phân công của tổ chức; kén chọn chức danh, vị trí công tác, mà Hồ Chí Minh gọi là: “Bệnh hiếu danh - Tự cho mình là anh hùng, là vĩ đại. Có khi vì cái tham vọng đó mà việc không đáng làm cũng làm. Đến khi bị công kích, bị phê bình thì tinh thần lung lay. Nhưng người đó chỉ biết lên mà không biết xuống. Chỉ chịu được sướng mà không chịu được khổ. Chỉ ham làm chủ tịch này, ủy viên nọ, chớ không ham công tác thiết thực”.

Người yêu cầu: “Phải khắc phục bệnh cá nhân chủ nghĩa, bệnh công thần, óc địa vị. Nó đẻ ra nhiều cái xấu như xích mích, kèn cựa giữa cán bộ và giữa đảng viên, không ai phục ai, không giúp đỡ nhau, không cộng tác chặt chẽ với nhau. Bệnh cá nhân còn dẫn đến tệ bảo thủ, quan liêu, tham ô, lãng phí, sợ khó, sợ khổ, thấy khó khăn thì đâm ra tiêu cực, bi quan”, từ đó dẫn đến những biểu hiện chọn nơi có nhiều lợi ích, chọn việc dễ, bỏ việc khó; không sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi xa, nơi có khó khăn. Thậm chí còn tìm mọi cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho cá nhân một cách không lành mạnh. “Không phục tùng mệnh lệnh, không tuân theo kỷ luật. Cứ làm theo ý mình”.

Những biểu hiện chỉ tập trung giải quyết những vấn đề ngắn hạn trước mắt, có lợi cho mình Người gọi là “Bệnh cận thị - Không trông xa thấy rộng. Những vấn đề to tát thì không nghĩ đến mà chỉ chăm chú những việc tỉ mỉ”.

Người đấu tranh với những biểu hiện tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích và gọi đó là: “Tư túng - Kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu mình, không tài năng gì cũng kéo vào chức này chức nọ. Người có tài có đức, nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài. Quên rằng việc là việc công, chứ không phải việc riêng gì dòng họ của ai”. Người phê bình thẳng thắn: “Có những đồng chí còn giữ thói “một người làm nên cả họ được nhờ”, đem bà con bằng hữu vào chức này việc kia, làm được, không được mặc kệ. Hỏng việc đã có đoàn thể chịu, cốt cho bà con, bạn hữu có địa vị là được”.

2. Quan niệm của Hồ Chí Minh về suy thoái đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ

Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn khá nhiều về suy thoái đạo đức, lối sống. Người thẳng thắn đấu tranh với mọi biểu hiện cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình. Người gọi đó là các căn bệnh: “Ốc hẹp hòi - Ở trong Đảng thì không biết cất nhắc những người tốt, sợ người ta hơn mình. Ở ngoài Đảng thì khinh người, cho ai cũng không cách mạng, không khôn khéo bằng mình. Vì thế mà không biết liên lạc hợp tác với những người có đạo đức tài năng ở ngoài Đảng. Vì thế mà người ra uất ức và mình thành ra cô độc”; và “Bệnh tham lam – Những người mắc phải bệnh này thì đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc, do đó mà chỉ “tự tư tự lợi”. Dùng của công làm việc tư. Dựa vào thế lực của Đảng để theo đuổi mục đích riêng của mình. Sinh hoạt xa hoa, tiêu xài bừa bãi. Tiền bạc đó ở đâu ra? Không xoay của Đảng thì xoay của đồng bào. Thậm chí làm chợ đen buôn lậu. Không sợ mất thanh danh của Đảng, không sợ mất danh giá của mình”. “Còn có những đồng chí chỉ lo ăn ngon, mặc đẹp, lo phát tài, lo chiếm của công làm của tư, đạo đức cách mệnh thế nào, dư luận chê bai thế nào cũng mặc”.

Ngay từ đầu năm 1948, khi nhà nước cách mạng còn hết sức non trẻ, gặp muôn vàn khó khăn, Người đã chỉ ra cần phải đấu tranh với những vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành. Hồ Chí Minh yêu cầu: “Phải thật sự mở rộng dân chủ trong cơ quan. Phải luôn luôn dùng cách thật thà tự phê bình và thẳng thắn phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên. Phải kiên quyết chống cái thói “cả vú lấp miệng em” ngăn cản quần chúng phê bình. Một đảng viên ở địa vị càng cao, thì càng phải giữ đúng kỷ luật của Đảng, càng phải làm gương dân chủ”.

Người kiên quyết chống “Bệnh hẹp hòi”, vì “Nhiều thứ bệnh, như chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân, khuynh hướng tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi, bệnh hủ hóa, .v.v., đều do bệnh hẹp hòi mà ra!”. Người giải thích về “Địa phương chủ nghĩa”, đó là: “chỉ chăm chú lợi ích của địa phương mình mà không nhìn đến lợi ích của toàn bộ. Làm việc ở bộ phận nào chỉ biết bênh vực vun đắp cho bộ phận ấy. Do khuyết điểm đó mà sinh ra những việc, xem qua thì như không quan hệ gì mấy, kỳ thực rất có hại đến kế hoạch chung”.

Sau Cách mạng Tháng Tám, mặc dù những biểu hiện “chạy thành tích”, “chạy khen thưởng”, “chạy danh hiệu” chưa phổ biến, nhưng biểu hiện của bệnh “thành tích”, háo danh, phô trương, thổi phồng thành tích, “đánh bóng” tên tuổi; thích được đề cao, ca ngợi, đã bị Người chỉ ra và phê phán, như các bệnh: “Ham chuộng hình thức: Việc gì không xét đến cái kết quả thiết thực, cần kíp, chỉ chăm về hình thức bên ngoài, chỉ muốn phô trương cho oai”. “Bệnh “hữu danh, vô thực” – Làm việc không thiết thực, không từ chỗ gốc, chỗ chính, không từ dưới làm lên. Làm cho có chuyên, làm lấy rồi. Làm được ít suýt ra nhiều, để làm một bản báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ lại thì rỗng tuếch”. “Bệnh kiêu ngạo - Tự cao, tự đại, ham địa vị, hay lên mặt. Ưa người ta tâng bốc mình khen ngợi mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình. Không thèm học hỏi quần chúng, không muốn cho người ta phê bình. Việc gì cũng muốn làm thầy người khác”.

Người cũng đấu tranh với các biểu hiện che giấu khuyết điểm: “Báo cáo thì chậm trễ, làm lấy lệ. Báo cáo dối, giấu cái dở cái xấu, chỉ nêu cái tốt cái hay. Báo cáo bề bộn – chỉ góp báo cáo các ngành, các cấp dưới, rồi cứ nguyên văn chép lại gửi lên, .v.v”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng sớm chỉ ra các bệnh có các biểu hiện quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình:

- “Ốc quân phiệt quan liêu. Khi phụ trách ở một vùng nào thì như một ông vua con ở đấy, tha hồ hách dịch, hoạnh họe. Đối với cấp trên thì xem thường, đối với cấp dưới cậy quyền lấn áp. Đối với quần chúng ra vẻ quan cách làm cho quần chúng sợ hãi. Cái đầu óc “ông tướng, bà tướng” ấy đã gây ra bao ác cảm, bao chia rẽ, làm cho cấp trên xa cấp dưới, đoàn thể xa Nhân dân”.

- “Làm việc lối bàn giấy. Thích làm việc bằng giấy tờ thật nhiều. Ngồi một nơi chỉ tay năm ngón không chịu xuống địa phương kiểm tra công tác và để chỉ vạch những kế hoạch thi hành chỉ thị, nghị quyết của đoàn thể cho chu đáo… Cái lối làm việc như vậy rất có hại. Nó làm cho chúng ta không đi sát phong trào, không hiểu rõ được hình tình bên dưới, cho nên phần nhiều chủ trương của chúng ta không thi hành được đến nơi đến chốn”.

- “Bệnh mệnh lệnh tỏ ra ở chỗ hay dựa vào chính quyền mà bắt dân làm, ít tuyên truyền giải thích cho dân tự giác, tự động”.

Người yêu cầu chống các biểu hiện thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của Nhân dân: “Phải chống sự mong muốn làm cho được lòng cấp trên còn ở dưới Nhân dân thế nào cũng mặc, không thể vì lợi ích của Đảng mà chống Nhân dân mà quan liêu, hạ mệnh lệnh”.

Những biểu hiện gây lãng phí, thất thoát tài chính, tài sản, ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên… cũng được Người chỉ ra từ rất sớm trong một số cán bộ, đảng viên có những biểu hiện, như: “Họ tưởng rằng cách mạng là cốt để làm cho họ có địa vị, được hưởng thụ. Do đó mà họ mắc những sai lầm: kiêu ngạo, chưng diện, hưởng lạc, lãng phí của công, tự tư tự lợi, không tiết kiệm đồng tiền bát gạo là mồ hôi nước mắt của Nhân dân. Họ quên mất tác phong gian khổ phấn đấu, lạt lẽo với công việc cách mạng, xa rời Đảng, xa rời quần chúng. Dần dần, họ mất cả tư cách và đạo đức người cách mạng, sa vào tham ô, hủ bại và biến thành người có tội với Đảng, với Chính phủ, với Nhân dân”.

Người cũng kiên quyết đấu tranh chống tham ô, lãng phí, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với các đối tượng khác để trục lợi. Người chỉ rõ: “Bên cạnh những đồng chí tốt ấy, còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém. Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”. Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ. Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của Nhân dân”.

Ngay từ đầu năm 1947, Hồ Chí Minh đã nêu và kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện thao túng trong công tác cán bộ, mà Người gọi là: “Ốc bè phái: Ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng. Ai không thân với mình thì dù họ có tài cũng tìm cách dìm họ xuống, họ nói phải mấy cũng không nghe” và “Kéo bè kéo cánh lại là một bệnh rất nguy hiểm nữa. Từ bè phái mà đi đến chia rẽ. Ai hợp với mình thì dù người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng là dở, rồi tìm cách gièm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống. Bệnh này rất tai hại cho Đảng. Nó làm hại đến sự thống nhất. Nó làm Đảng bớt mất nhân tài và không thực hành được đầy đủ chính sách của mình. Nó làm mất sự thân ái, đoàn kết giữa đồng chí. Nó gây ra những mối nghi ngờ”.

“Do ít hiểu biết về tình hình trong nước và ngoài nước, ít nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm thực tiễn cho nên gặp thuận lợi thì dễ lạc quan, gặp khó khăn thì dễ dao động, bi quan, lập trường cách mạng không vững vàng, thiếu tinh thần độc lập suy nghĩ và chủ động sáng tạo. Do đó mà gặp nhiều khó khăn trong công việc, tác dụng lãnh đạo bị hạn chế”.

Nguyên nhân của những biểu hiện suy thoái có nhiều, nhưng chủ yếu là do chủ nghĩa cá nhân sinh ra. Theo Hồ Chí Minh “Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí. Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của Nhân dân”.

 

Phần thứ hai

TỔ CHỨC HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH ĐỂ GÓP PHẦN THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 4 KHÓA XII

 

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm và trăn trở về những hiện tượng tiêu cực trong Đảng và xã hội, mà Người thường gọi là vấn nạn quan liêu, tham ô, lãng phí. Người đã để lại nhiều bài nói, bài viết về đấu tranh phòng chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Việc nghiên cứu, học tập những tài liệu quý báu đó có ý nghĩa rất lớn trong công tác xây dựng Đảng hiện nay.

1. Tăng cường công tác giáo dục và tuyên truyền, xây dựng tinh thần chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong cán bộ, đảng viên.

Để chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" có hiệu quả cần coi trọng biện pháp phòng ngừa là chính. Vì vậy, công tác giáo dục có một vai trò quan trọng nhằm xây dựng tinh thần phòng và chống, tăng cường ý thức trách nhiệm, đề cao vai trò phục vụ Tổ quốc của đội ngũ cán bộ... Trong phong trào này, "giáo dục là chính, trừng phạt là phụ".

Trước hết cần giáo dục cho mọi tầng lớp nhân dân thấy rõ chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi công dân: "Nếu nhà ai bị mất cắp, mất trộm, thì hô hoán lên và cả xóm, cả làng đuổi bắt kẻ trộm. Khi của công bị mất cắp, mất trộm thì mọi người đều có trách nhiệm vạch mặt kẻ gian và đưa nó ra pháp luật vì mọi người đều có nghĩa vụ giữ gìn của công...".

Nội dung giáo dục là cần phải phân tích cho cán bộ, đảng viên, Nhân dân thấy tác hại nghiêm trọng của suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", từ đó tạo nên sự căm phẫn trong Nhân dân về các hành vi này và sự cần thiết phải đấu tranh loại bỏ nó. "Các báo chí thì cần nêu những việc kiểu mẫu, phân tích rõ ràng, làm cho mọi người nhận rõ: quan liêu, tham ô, lãng phí là tội ác. Và do đó mà khuyến khích quần chúng, mở rộng phong trào phê bình từ dưới lên trên"; bất kỳ ngành nào, địa phương nào cũng phải giáo dục cho cán bộ, Nhân dân, chiến sĩ gớm ghét nạn tham ô, lãng phí, bệnh quan liêu.

Bên cạnh đó, cần giáo dục tinh thần phục vụ Nhân dân cho cán bộ, công chức, những người có chức quyền, địa vị, có nhiều điều kiện và khả năng xuất hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" cũng chính là một trong những biện pháp ngăn ngừa có hiệu quả trong cuộc đấu tranh này. Hồ Chí Minh chỉ rõ: Về phương thức giáo dục, cần thường xuyên giáo dục đạo đức cách mạng, nâng cao ý thức phục vụ nhân dân trong thực thi công vụ của cán bộ, công chức... Giáo dục tinh thần trong sạch, liêm khiết cho toàn bộ cán bộ, công chức để giúp họ không vi phạm; đồng thời có kỷ luật thích đáng với những kẻ ngoan cố, không chịu ăn năn, sửa chữa.

2. Hoàn thiện các văn bản pháp luật về phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"

Rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy định, văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, điều hành bảo đảm công khai minh bạch, góp phần xóa bỏ cơ chế "xin – cho", "duyệt – cấp"; ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, "lợi ích nhóm", "sân sau", trục lợi trong quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản công, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, vốn đầu tư, đất đai, tài nguyên, khoáng sản, tài chính, ngân hàng, thuế, hải quan, phân bổ, quản lý và sử dụng biên chế... Đồng thời kiên quyết xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật.

Tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu trong việc để xảy ra sai phạm và tăng hình phạt xử lý kẻ tham nhũng một cách thích đáng, đủ sức răn đe. Trong đó, trách nhiệm của người đứng đầu là thường xuyên kiểm tra việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của cán bộ, công chức dưới quyền để sớm ngăn chặn những hành vi tiêu cực đang trong quá trình hình thành.

Bên cạnh việc hoàn thiện pháp luật cần phải tăng cường pháp chế, bảo đảm việc thực hiện nghiêm túc pháp luật về phòng, chống tham nhũng trên thực tế: "Cần có những pháp luật để trừng trị tệ tham ô, lãng phí, và phải chấp hành những pháp luật ấy một cách nghiêm chỉnh...". "Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì". Về hình phạt, Bác Hồ nhắc lại lời của Lênin: "không xử bắn bọn ăn hối lộ mà xử nhẹ như thế, là một việc xấu hổ cho những người cộng sản, những người cách mạng". Hình phạt đối với những kẻ tham nhũng, tiêu cực không chỉ là kết án, bị tước hết địa vị mà những tội lỗi ấy cần được công khai trong công luận để cho dư luận đánh giá. Hình phạt này nặng không kém những kết án của tòa án.

3. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng và Nhà nước

Trong phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" các tổ chức đảng, chính quyền, đặc biệt bộ phận chuyên trách làm công tác thanh tra, kiểm tra có vai trò quan trọng.

Trong quá trình thực thi nhiệm vụ, các cơ quan không chỉ phát hiện và xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi tiêu cực, mà còn phải phát hiện những kẽ hở trong chính sách, pháp luật, cơ chế quản lý để giúp Trung ương hoàn thiện, từ đó hạn chế những hành vi tiêu cực; giúp các cấp lãnh đạo địa phương tìm ra những biện pháp tích cực chống tiêu cực.

4. Phát huy dân chủ, hoàn thiện cơ chế để huy động Nhân dân tham gia phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"

Tăng cường công tác dân vận của Đảng và của chính quyền; phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, của Nhân dân, báo chí và công luận trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong cán bộ, đảng viên. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải thực hiện nghiêm túc việc tiếp dân định kỳ hoặc đột xuất để tiếp nhận thông tin, lắng nghe, đối thoại trực tiếp và xử lý những phản ánh, kiến nghị của Nhân dân, nhất là những biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong cán bộ, đảng viên. Xây dựng và thực hiện Quy định về việc lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân đối với cơ quan, cán bộ, công chức trực tiếp giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp; có hình thức xử lý đối với những tổ chức, cá nhân có chỉ số hài lòng thấp. Xây dựng và thực hiện cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác và tích cực đấu tranh phòng, chống suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

Để Nhân dân có thể kiểm soát được cán bộ thì phải xây dựng được cơ chế công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, trước hết là trong hoạt động tài chính. "Quản lý phải dân chủ, tài chính phải công khai - Sổ sách phải minh bạch. Phải chống quan liệu, lãng phí, tham ô".

Theo Hồ Chí Minh: "Mở rộng dân chủ phê bình trong cơ quan và ngoài quần chúng, từ trên xuống và từ dưới lên. "Trên đe dưới búa" của phê bình, thì nhất định tẩy được bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí".

5. Tổ chức học tập, thảo luận, liên hệ và lựa chọn những việc làm theo của tập thể và cá nhân cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức

Việc tổ chức học tập, thảo luận, liên hệ và lựa chọn những việc làm theo của tập thể và cá nhân cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thực hiện theo Công văn số 1998-CV/BTGTW, ngày 10/2/2017 của Ban Tuyên giáo Trung ương về sinh hoạt chuyên đề thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW (phần II).

Các cơ quan thông tấn, báo chí, các hội văn học, nghệ thuật, báo chí, xuất bản ở Trung ương và các địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền về nội dung chuyên đề của năm 2017; chú trọng biểu dương nhân rộng gương điển hình, cách làm hay, gương người tốt, việc tốt của các địa phương, cơ quan, đơn vị.

Đẩy mạnh tuyên truyền trong quần chúng nhân dân, vận động Nhân dân tích cực học tập và làm theo Bác, xây dựng đời sống văn hóa tinh thần ở địa phương, cơ sở, tích cực phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh./.

 

 

 

Tác giả: admin
Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 28
Hôm qua : 30
Tháng 10 : 915
Năm 2021 : 19.752